12/26/09

FireFox Portable can't show WMV file

  1. If some of the files are still missing, you can download the individual files from dlldump.com:Download them to the Windows Media Player directory (usually C:\Program Files\Windows Media Player) and then restart Firefox.
  2. If the plug-in files still do not appear, try copying them to the Firefox plugins directory (usually $\FirefoxPortable\App\Firefox\plugins).

12/23/09

Hành Trang Du Học

HỌC, ĐỌC, VIẾT NHƯ THẾ NÀO?

Khi ở Hà Nội, tôi thường lên Thư viện Quốc gia ở Tràng Thi để làm việc. Nói là để làm việc cho oai, nhưng thực ra là còn nhiều lý do khác nữa. Một trong những lý do đấy là để nói chuyện với các bạn khác lên học ở thư viện. Từ thời tôi còn đi học đại học đến nay cũng được vài năm rồi nên so với các bạn sinh viên vẫn lên thư viện để học hành chuẩn bị cho thi cử tôi bây giờ là thế hệ anh lớn. Anh lớn mà lại có chút thành đạt thì hay được các em hỏi han về kinh nghiệm học hành thi cử. Cả kinh nghiệm và thành đạt của tôi, như nhiều người quen tôi đều biết, gắn liến với việc thành công trong việc học tiếng Anh rồi sử dụng tiếng Anh để đạt được các mục tiêu thiết thực khác.

Các bạn sinh viên bây giờ quan tâm đến việc chuẩn bị để đi học ở nước ngoài nhiều hơn thời tôi còn đi học. Điều này cũng dễ hiểu. Ngày xưa, xin được học bổng đi học nước ngoài là một ý định mà thành công phụ thuộc nhiều vào may rủi và hoàn cảnh. Ngày nay, vai trò của may rủi và hoàn cảnh không còn nặng nề như thời trước. Có ý định, bạn sinh viên sẽ cần có thêm ý chí, quyết tâm và đường đi nước bước dần dần sẽ tự mở ra trước mặt. Việc có được học bổng tuy thế lại mới chỉ là một nửa thành công, nửa kia phụ thuộc vào việc bạn sẽ học như thế nào khi ở nước ngoài. Điều này, các bạn đã đi học như tôi đều hiểu là rất quan trọng. Việc học bằng ngoại ngữ trong một môi trường học vấn khác cơ bản môi trường học ở Việt Nam là một trong những trở ngại làm nhiều sinh viên Việt Nam học giỏi chưa phát huy được hết trình độ và khả năng của mình. Một vài lời khuyên từ những người đi trước sẽ có ích cho bạn.

Tôi viết bài viết này với ý định cung cấp cho các bạn đi sau một vài lời khuyên về việc học, đọc, viết bằng tiếng Anh đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của tôi. Tôi hạn chế việc áp dụng những lời khuyên này trong môi trường đại học ở Mỹ, là môi trường duy nhất ngoài Việt Nam mà tôi biết đồng thời cũng là mục tiêu phấn đấu của phần lớn các bạn. Những gì tôi viết ra tôi đã từng nói hay nghĩ những lúc “trà đá, kẹo lạc” với các bạn ở Thư Viện Quốc Gia Hà Nội. Tôi tổng kết lại ở đây để các bạn đọc và chúc các bạn gặp nhiều may mắn trong con đường học tập của mình.

oOo


HỌC

1. Học như thế nào?

Như nhiều bạn quen đều biết, hiện nay (9/2001) tôi đang làm việc ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Xem xét dưới góc độ những vui buồn lịch sử, thì Bắc Kinh là một trong những địa điểm có thể để lại cho một người Việt Nam nhiều suy nghĩ về quá khứ và sự ràng buộc của nó với hiện tại.
Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng sau một thời gian sống ở Bắc Kinh và làm bạn với nhiều người Trung Quốc, ấn tượng của riêng tôi là Trung Quốc với Việt Nam giống nhau nhiều quá. Khi người ta nói hai địa điểm, hai quốc gia giống nhau, thông thường người ta chỉ so sánh những điểm tương đồng địa lý, ví dụ như khi nói Li Băng là Thụy Sỹ của Trung Đông là người ta so sánh đồi núi trập trùng và băng tuyết. Điểm tương đồng của Việt Nam với Trung Quốc tuy thế lại không hạn chế về mặt địa lý mà là về tổng thể con người (human landscape.)

Tôi sẽ bỏ qua không nói đến những nét tốt nét xấu trong tương quan so sánh tưởng như dĩ nhiên này mà chỉ tập trung nói về cách học của những người trẻ tuổi ở cả hai nước. Bất kể việc quan hệ Việt-Trung có một thời gian gần đây băng giá kéo dài, quan niệm về việc học (như thế nào, cái gì, khi nào, ở đâu) của thanh niên hai nước gần như là dập khuôn của nhau. Điều này, như các bạn có thể đã nghĩ trước một bước và nhận ra trước khi tôi kịp nói, có nguồn gốc từ những tương đồng văn hóa sâu sắc và lâu dài.

Những điểm tương đồng này phần nhiều đều bắt nguồn từ hệ tư tưởng và học vấn Nho Giáo mà hai nước chia xẻ. Đối với Việt Nam, ban đầu là bị ép buộc phải chấp nhận nó, về sau chúng ta đã yêu thương nó thái quá và biến nó thành của mình. Tư tưởng Nho giáo Việt Nam tuy có những khác biệt mang tính địa phương nhưng về tổng quan lại song hành từng bước một với cái gốc của nó là Nho giáo Trung Quốc.

Ngày xưa khi thế giới quan của chúng ta chỉ có Việt Nam và Trung Quốc là đáng kể, các cụ chúng ta làm thơ hay viết văn vẫn dùng điển cố Trung Quốc; từ cách hành văn, chấm bài, phạt phạm quy phạm húy đến cách mài mực, phạt học trò và vô số các thứ khác nữa mà các bạn có thể tự tìm ra đều trích ngang từ cách làm Trung Quốc. Do những tương đồng xã hội và chính trị thủa xa xưa, động cơ và phương pháp học, dù đặt ra bởi người dạy hay người học, ở Việt Nam hay Trung Quốc cũng giống nhau nốt. Tôi liệt kê ra một vài điểm thế này:

 Học tập là con đường tiến thân duy nhất (nếu không…biết võ)
 Hành lễ quan trọng hơn kiến thức
 Văn chương quan trọng hơn toán pháp
 Chú trọng khả năng ghi nhớ
 Áp đặt trong khuôn khổ

Chí ít là khi còn ở trong nước, hậu quả của những đặc điểm trên đối với việc học của chúng ta là:

 Chúng ta học để tiến thân hơn là để có kiến thức
 Chúng ta đặt hòa thuận lên trên tranh luận để tìm ra sự thật
 Chúng ta coi trọng lý thuyết hơn là ứng dụng và thực hành
 Mặc dù rất nhanh nhạy trong việc bắt lấy những thứ mới, về bản tính chúng ta thích dùng những thứ có sẵn, quen thuộc hơn là suy nghĩ tạo ra những thứ mới.
 Chúng ta xuất sắc trong việc làm theo và quy tắc hóa những thứ có sẵn.

Tôi đã nghe nhiều bạn Trung Quốc và Việt Nam khoe rất mãn nguyện là mấy năm sau khi học xong đại học họ chưa đọc một quyển sách nào cả. Đây là ví dụ về việc học để tiến thân. Kiến thức chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích.

Trong các mailing list của người Việt, việc tranh cãi thường bị phe quản trị diệt luôn khi nó vừa xuất hiện với lý do làm mất đoàn kết. Tranh cãi tất nhiên có nhiều loại. Có những thứ thật sự là vô ích, nhưng phần lớn đều để tìm ra một câu trả lời đúng. Nếu chỉ vì đoàn kết mà không chịu tìm ra câu trả lời đúng thì dắt tay nhau trong bóng tối phỏng có lợi ích gì? Đây chính là lý do mà phương pháp học theo kiểu thảo luận lớp chưa có được chỗ đứng trong học đường cả ở Việt Nam cả ở Trung Quốc.

Nếu kiến thức chỉ là phương tiện thì miễn là nó đưa được mình đến chỗ mình cần đến là xong bất kể nó là kiến thức loại gì hay ai đặt ra. Nếu nhà trường đề ra 10 môn học cụ thể cho một năm học thì không cần biết mình có cần những kiến thức đó không, cứ học và thi cho qua là được. Đây là lý do mà nhiều bạn học đại học ở Việt Nam và Trung Quốc hay quên kiến thức chuyên môn ngay khi khóa học vừa xong. Cảm giác xúc động vì có thêm kiến thức chỉ vì nó là kiến thức đối với chúng ta khá là xa lạ.

Đã quen sống trong khuôn khổ, chúng ta sợ những vùng đất mới, sợ khám phá, sợ bị lên án là ngược đời, kiêu căng, tập tọng đòi hơn người. Trí sáng tạo vì thế bị suy giảm, sự ù lì nhờ đó tăng lên. Trong những bão táp của thế sự xoay vần, một sinh viên mới tốt nghiệp đại học ở Việt Nam hay Trung Quốc không khác mấy một ngọn nến lắt lay trong gió. Đã biết là đại học không chuẩn bị cho họ để đứng vững và có đủ tự tin nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn hy vọng là kinh nghiệm thực tế từ nay có thể thay cho kiến thức. Nếu có học thêm cũng chỉ là để vượt vũ môn lần nữa. Nếu có sáng tạo ra gì cũng chỉ để tiến thân cao hơn. Người Trung Quốc rất giỏi trong việc sản xuất hàng loạt nhưng không giỏi trong việc chế tác hoặc nếu có cũng là những thứ không thực dụng. Ở Bắc Kinh, tôi có lần mua một cái phone card. Cái đồ dùng vài lần rồi bỏ này rõ ràng là không cần phải hoa mỹ làm gì, chỉ cần một mảnh giấy con cũng là đủ thế mà tôi nhận được một thanh plastic dầy khoảng 3mm, có một dãy đèn ở trên và hai nút bấm mà nếu bấm vào thì sẽ có tiếng điện thoại kêu nhiều kiểu lạ tai. Thử tính xem bao nhiêu nguồn lực vật chất (pin, đèn, nhựa) và tâm lực đã bị phí phạm vào việc sản xuất thứ đồ quái gở này.

Ví dụ về việc quy tắc hóa mọi thứ là về việc các bạn Trung Quốc đi thi các bài thi tiêu chuẩn như TOEFL, GRE, GMAT, vv. Như các bạn đều biết, sinh viên Trung Quốc luôn đứng hàng đầu trong các kỳ thi này, vượt qua cả người Mỹ bản xứ là nơi sản sinh ra loại hình thi cử này. Nhìn kết quả, ta nghĩ ngay là người Trung Quốc phải giỏi toán, lý luận và cả tiếng Anh hơn người Mỹ. Nếu không thế thì chẳng có lý nào họ lại được điểm cao như thế?

Tôi đã gặp với một người bạn của một người bạn Trung Quốc, nổi tiếng vì thi TOEFL, GRE, GMAT đều đạt điểm gần tuyệt đối. Tôi rất thất vọng vì anh này khi viết tiếng Anh trong email thì trình độ chỉ như trẻ con lớp năm bên Mỹ, đến lúc trực diện thì còn thất vọng hơn vì nói tiếng Anh chẳng câu nào ra câu nào, văn phạm thì còn có thể chấp nhận được nhưng cách sắp xếp lộn xộn các ý tưởng thì rất khó bỏ qua. Kết luận của tôi là anh này trí nhớ và khả năng tuân thủ và tạo mới quy tắc đều rất tốt nhưng ngoài những thứ này ra thì chẳng còn gì hơn.

Sinh viên Trung Quốc có những người cả đời chưa đọc một quyển sách tiếng Anh nào, chưa tiếp xúc với một người bản xứ nào và chỉ học tiếng Anh theo kiểu các quy tắc từ sách vở của người Trung Quốc soạn cho người Trung Quốc học, ví dụ một quyển tên là “5.000 mẫu câu tiếng Anh.” Cách học của những sinh viên “xuất sắc” là nhớ cho kỳ hết 5.000 mẫu câu trên, và mỗi câu lại được họ biến thành một quy tắc máy móc riêng biệt phải có bằng đấy từ, bằng đấy dấu chấm dấu phẩy. Lần sau khi nhìn thấy câu đấy hay tương tự thế thì họ nhận ra ngay, nhưng bảo họ tự viết ra một câu kiểu như thế thì họ thường rất lúng túng. Lúng túng cũng là phải, bây giờ biết lấy quy tắc nào để ghép vào quy tắc nào nếu các từ họ biết đều được biến thành những quy tắc riêng biệt.

+++

Vậy cách học nên phải thế nào để có hiệu quả nhất. Nếu đã đọc qua phần trên và hiểu giống như tôi hiểu, tôi mong các bạn nhớ giúp một vài điểm chính sau đây, sẽ có lợi cho việc học ở Mỹ:

 Hãy học vì kiến thức. Hãy chọn những thứ mình muốn học, đừng chọn những thứ mình nghĩ sẽ làm mình có giá hơn trong mắt mọi người về sau. Nếu quan tâm đến ruồi trâu, cào cào, châu chấu, hãy cố đọc và học cho thật giỏi về những thứ tưởng như vô ích này. Nếu bạn thật giỏi, ở Mỹ sẽ có chỗ cho bạn học sâu hơn.
 Đừng bao giờ bê trễ việc có thêm kiến thức và hiểu biết. Học tập phải là một quá trình cả đời, không chỉ kết thúc khi học xong đại học mà thục ra chỉ mới bắt đầu khi đó.
 Nếu không hài lòng với một vấn đề kiến thức nào đó, hãy tìm chỗ để tham khảo và tìm ra câu trả lời đúng. Hãy tranh luận và tranh cãi, lục tìm và gạt bỏ. Đừng sợ mất bạn bè, mất thể diện, mất sự ưu ái của ai hết. Nếu bạn có trong tay sự thật, những thứ bạn có được nhờ nó sẽ có ích cho bạn hơn những thứ bạn phải mất để có nó.
 Đừng mất thời gian làm tốt hơn những thứ đã sẵn có, hãy thử tạo ra những thứ mới. Kể cả nếu bạn thất bại, thất bại của bạn sẽ là mẹ đẻ của một hay nhiều thành công khác. Công lao này cũng có phần to lớn của bạn. Hãy thử nghĩ đã biết bao nhiều uống dấm thanh ăn lá ngón để chúng ta biết mấy thứ đó là độc. Nhờ có thất bại của những người đi trước, chúng ta mới có kiến thức của ngày hôm nay.
 Hãy nhìn mọi thứ bằng con mắt động (Lời Lênin.) Hãy luôn cố mở rộng hệ quy tắc chuẩn của mình bằng cách thêm vào những quy tắc mới hay đưa những hiện tượng mới vào làm giầu thêm các quy tắc cũ. Luôn tìm cách áp dụng những quy tắc mình biết vào những hiện tượng mới, nếu được hãy tạo ra những hiện tượng mới nhờ những quy tắc đã có. Nói ngắn gọn là chú tâm vào thực hành và ứng dụng.
 Nếu bạn coi kiến thức là quan trọng nhất, hãy có được thật nhiều cho mình rồi chia xẻ với người khác. Hãy học cho cả những người khác nữa.

===


2. Học cái gì?

Nếu đã hiểu cần phải học thế nào, thì việc học cái gì không còn quan trọng lắm. Nói là thế nhưng có một vài môn học ở ta hiện chưa có dạy hoặc chưa được học đúng cách nhưng nếu các bạn có thể đọc, học, hiểu trước khi đến học ở Mỹ cũng sẽ có lợi. Nói thế không có nghĩa bạn sẽ không thành công nếu bạn không có hiểu biết về chúng.

 Triết học
 Logic học
 Lịch sử và đặc điểm xã hội Mỹ
 Lịch sử và các hình thái kinh tế xã hội thế giới
 Lịch sử và phát triển của các tôn giáo chính

Tuy mỗi bạn sẽ học một ngành khác nhau, hiểu biết về các môn nói trên là những hiểu biết chung mà các sinh viên Mỹ giỏi bất kỳ ngành nào ít nhiều cũng đều có biết. Nếu bạn cũng hiểu, cũng biết và lại giỏi nữa thì vị trí của bạn trong số bạn cùng học sẽ được đề cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập môn chuyên môn của bạn.

Triết học: Triết học không phải là môn phổ biến ở Mỹ nhưng là môn được đề cao đúng mức. Hiểu biết và năng lực tư duy triết học cũng được trầm trồ như khả năng nói đọc viết nhiều ngoại ngữ ở Việt Nam. Sự thán phục này tuy vậy lại là một sự thán phục kín đáo và gián tiếp. Kín đáo ở chỗ người ta sẽ không nhất thiết phải khen ngợi bạn hẳn ra ngoài, và gián tiếp ở chỗ người ta sẽ không khen bạn về kiến thức triết học cụ thể. Hiểu biết về triết học, đặc biệt là triết học phương Tây của bạn gợi ý cho người ta về khả năng tư duy tổng hợp, sự đọc rộng và sâu của bạn. Lợi ích của việc những người xung quanh thán phục năng lực cá nhân của bạn thiết tưởng không cần phải diễn giải nhiều ở đây. Cố gắng đọc chút ít về triết học Hy Lạp cổ, các trường phái Đức và Áo cận hiện đại. Một cuốn sách có thể giúp bạn quen mặt biết tên và nắm được những ý tưởng chính về triết học xưa nay là cuốn Sophie’s World của một tác giả Na-uy tôi không nhớ tên nhưng bạn có thể tìm dễ dàng trên các website bán sách.

Lý do triết học được coi trọng như đã nói ở trên là vì nó gắn liền với khả năng tư biện của bạn. Muốn tư biện giỏi chắc chắn phải có hiểu biết về logic. Nhiều bạn Việt Nam đã học toán logic ở đại học nhưng lại không được học cụ thể các cách áp dụng vào thực tế như thế nào. Môi trường đại học và khoa học Mỹ đặt tầm quan trọng lớn vào khả năng nghiên cứu độc lập của bạn mà điều này đòi hỏi bạn phải hiều và có thể tự sửa lỗi. Các quy tắc logic được thiết lập từ lâu nay giúp bạn không mắc những lỗi sai trong tư duy và nghiên cứu, đặc biệt trong những ngành không sử dụng nhiều con số để có thể kiểm tra bằng các phương pháp toán học thông thường. Logic còn giúp bạn nhiều trong thảo luận trên lớp cũng như trong các quan hệ xã hội và ra quyết định cuộc sống hàng ngày ở một môi trường coi trọng cá nhân và tính độc lập tự chủ.

Ba môn về sau giúp bạn có hiểu biết về Mỹ nói riêng và thế giới nói chung và cùng với môn chuyên ngành của bạn giúp bạn có một vốn kiến thức rộng và đầy đủ. Như bạn biết xã hội Mỹ được dựng lên trên những nguyên tắc cụ thể và những nguyên tắc này đến bây giờ vẫn là những nguyên tắc chi phối mọi mặt đời sống Mỹ. Hiểu biết lịch sử và các đặc điểm xã hội của Mỹ giúp bạn né tránh được những hậu quả của shock văn hóa và nhờ vậy bạn có thể bình tĩnh để chú tâm vào học chuyên môn được tốt hơn. Ngoài ra, trong một môi trường quốc tế, đa văn hóa, đa tôn giáo như môi trường đại học Mỹ, có hiểu biết về các nền văn hóa và các tôn giáo khác trên thế giới giúp bạn có được sự rộng lượng, tự tin, cởi mở với người khác cũng như tránh được tâm lý tự ty nhược tiểu của bản thân mình. Tất cả những điều này đều có ích cho việc học, học sâu và học cao hơn, của bạn.

Trước khi tôi chuyển sang phần sau, tôi muốn nói một lần nữa để bạn hiểu là các hiểu biết nêu trên không phải là bắt buộc khi đến Mỹ học. Chúng chỉ giúp đặt bạn vào giữa những thành viên xuất sắc nhất của trường học, giúp bạn nhiều thuận lợi trong việc theo đuổi học vấn. Có được kiến thức đòi hỏi phải có thời gian nhưng nếu ngay từ giờ bạn có ý tìm tòi và nghiên cứu, đọc học thêm thì một vài năm nữa khi đến Mỹ bạn sẽ nhận được ngay những lợi ích mà tôi đề cập ở trên.

oOo

ĐỌC

Khả năng đọc là một trong những khả năng tuyệt vời của con người, là phát kiến thần kỳ và quan trọng có lẽ chỉ sau việc tìm ra lửa. Việc tìm ra lửa giúp biến thủy tổ của chúng ta từ loài vật thành loài người, việc phát kiến ra chữ viết và từ đó thiết lập nên một hoạt động mới của con người là đọc giúp biến con người “vớ vẩn” thành con người thông minh. Khác với suy nghĩ là một hoạt động có sẵn, đọc là một hoạt động cố ý và phải được huấn luyện được đúc kết từ khả năng quan sát và nhận biết thông tin. Nhờ có hoạt động đọc mà hiểu biết của chúng ta tăng lên và nhờ đó mà suy nghĩ của chúng ta được đẩy lên những tầm cao mới. Nói thế cũng có nghĩa là nếu không đọc thì suy nghĩ của chúng ta chỉ đứng yên ở những tầm cao…cũ.

Có lẽ chính vì đọc là một hoạt động phải được rèn luyện và thực hành một cách cố tình nên nó cũng là một hoạt động mang tính lựa chọn. Người ta không trốn tránh được việc suy nghĩ nhưng có thể lựa chọn đọc hay không đọc. Người ta có thể không đọc vì không biết chữ hay không có gì để đọc nhưng phần nhiều những người còn lại không đọc chỉ vì không thích đọc, nói ngắn gọn là vì lười hoặc vì không nhìn thấy lợi ích thiết thực trong việc đọc. Nếu vì đọc làm ảnh hưởng đến việc mưu cầu sự sống thì có thể tha thứ được nhưng nếu không đọc chỉ vì lười thì là một điều rất đáng trách. Nếu bạn là một người như vậy thì khả năng suy nghĩ của bạn chắc chắn là sút kém và bạn đang tiến hóa lùi.

Khi có một cái ô tô thì bạn đã có phương tiện để đi xa. Nếu thay vì dùng ô tô để đi những khoảng cách hàng ngàn km bạn lai quyết định đi bộ thì bạn đang để phí những nguồn lực quan trọng. Khả năng đọc cũng là một phương tiên tương tự như ô tô có thể đưa bạn đến những nơi bạn chưa đến, làm những việc thú vị mà bạn chưa làm, gặp gỡ những người có thể làm thay đổi lộ trình của cuộc đời bạn. Không có lý do nào có thể biện minh cho việc bạn không sử dụng phương tiện này cả. Như hoạt động nhìn, hoạt động nghe, hoạt động đọc phải được coi là một hoạt động quan trọng mà bạn thực hiện đều đặn mỗi ngày.

Tại sao việc đọc lại quan trọng đến như vậy? Bạn thử hình dung lại khi chưa có chữ viết thì thông tin được truyền đạt từ đời này sang đời khác như thế nào. Thuần túy là bằng trí nhớ kiểu cha truyền con nối. Không chỉ nói đến văn học dân gian hay những thần thoại mang tính sử thi, những kiến thức mang tính sống còn với con người ví như loại quả loại cây nào ăn được cũng chỉ được truyền đạt lại cho người sau bằng cách này. Lời nói gió bay, độ chính xác của những thông tin truyền lại thường bị sai lệch đi nhiều. Chữ viết đã ra đời để giúp nâng cao độ tin cậy của thông tin đồng thời trở thành một phương tiện lưu trữ hết sức hiệu quả các thành tựu bất kể lớn bé của con người. Đa phần những kiến thức quan trọng ngày hôm nay đều đã được ghi chép lại dưói một dạng chữ viết này hay chữ viết khác. Thay vào việc tìm tòi và nghiên cứu lại từ đầu, người đời sau có thể sử dụng kiến thức của đời trước để phát triển hơn nữa. Để có thể làm được như vậy chỉ có một cách duy nhất là đọc.

Đọc vì thế có các chức năng thông tin và học. Đọc cũng có chức năng giải trí nhưng với bạn là người theo đuổi học vấn có mục đích thì chức năng này phải được coi như chức năng phụ. Việc bạn sử dụng chức năng nào của đọc phụ thuộc vào hai điềm sau: thứ nhất, bạn đọc như thế nào; và thứ hai, bạn đọc cái gì.

===

1. Đọc như thế nào?

Khi mới bắt đầu học đọc tôi thường chỉ đọc mà không ghi chép. Lúc còn trẻ con và sau này nữa trí nhớ còn tốt, đọc mà không ghi chép tôi vẫn có thể nhớ được nhiều và nhiều năm về sau vẫn có thể nhớ lại những thông tin đã đọc. Nhưng những thông tin quan trọng mà không nhớ được cũng rất nhiều. Chính vì để khỏi mất mát những thông tin quan trọng đã đọc được, tôi bây giờ ủng hộ việc đọc có ghi chép. Tuổi càng cao lên, trí nhớ của bạn càng sút giảm và lợi ích của việc ghi chép sẽ ngày càng tăng. Lời khuyên đầu tiên của tôi về việc đọc là nên ghi chép lại ngắn gọn những thứ bạn đọc. Cũng nên ghi chép chi tiết những thứ mà vào thời điểm đọc bạn coi là quan trọng.

Như vậy đọc để học và đọc để giải trí khác nhau ở một điểm đầu tiên này là tầm quan trọng của thông tin thu thập được. Khi đọc với chủ định học và ghi nhớ, bạn nên ghi chép; nếu đọc chỉ để chơi cho vui, đỡ buồn thì thôi.

Đọc bằng ngoại ngữ tuy thế lại có chức năng học kép, bạn vừa học ngoại ngữ lại vừa học kiến thức. Kể cả khi mà tài liệu bạn đọc không có gì quan trọng về nội dung, bạn vẫn có thể học được ngoại ngữ. Chính vì thế, nên ghi chép bất kỳ khi nào bạn đọc bằng ngoại ngữ.

Trái với quan niệm cổ truyền lạc hậu của chúng ta là đọc nhiều quá làm cho người ta bị bệnh về tinh thần, tôi đảm bảo với bạn là tôi đã gặp nhiều người cả đời chỉ có đọc và học mà trí tuệ hoàn toàn minh mẫn. Việc đọc và suy nghĩ không làm người ta lao lực mà ngược lại làm phát triển khả năng tư duy và góp nhặt tài sản tri thức. Chính hai thứ sau này khiến dân gian không được vừa lòng lắm với những tay “mọt sách.” Để tránh bị phê bình là odd-ball hay bookworm bạn chỉ cần để ý chút ít về các kỹ năng giao tiếp xã hội thông thường, nên tránh việc phô bày kiến thức ở những nơi mà bạn nghĩ nó sẽ không được đề cao lắm. Khiêm tốn bao giờ cũng là một đức tính đáng quý. Nếu bạn chưa là bạn của mọi người nhờ kiến thức thì lý do đầu tiên là kiến thức của bạn chưa đủ.

Chính vì đọc để học không có hại cho sức khỏe tinh thần của bạn như dân gian vẫn quan niệm, tôi khuyên bạn nên đọc bất kỳ khi nào có thể và bất kỳ cái gì có thể phục vụ cho mục đích học của bạn. Hãy đọc để học và đọc cả để nghỉ ngơi.
Rèn luyện được thói quen đọc nhiều, mọi nơi và đọc có ghi chép là tất cả những gì bạn cần để đọc thành công trong môi trường học ở Mỹ. Khác với học ở Việt Nam, việc đọc không được chú trọng lắm, một hai quyển sách giáo khoa đã là đủ thì ở Mỹ mỗi buổi học giáo sư có thể giao cho bạn đọc từ vài chục đến hàng trăm trang sách. Sự khác biệt này là hệ quả của một trong những nhược điểm của việc học ở Việt Nam và Trung Quốc tôi đã nói ở phần trên. Ở Việt Nam, quan niệm cho rằng kiến thức trong quyển sách giáo khoa kia đã là sự thật không thể thật hơn được nữa và để giỏi bạn chỉ cần biết đến thế. Ở Mỹ, cho sinh viên tiếp thụ thông tin trái ngược nhau là để sinh viên tự tìm lấy câu trả lời cho riêng mình đồng thời rèn luyện cho sinh viên khả năng tư duy chọn lọc (không tin ngay những gì bạn đọc, luôn đặt câu hỏi với thông tin, không hài lòng với những kiến thức có sẵn.) Học ở ta như thế sẽ khó tránh được việc phát triển cái cũ hay chỉ đơn thuần là hạn chế tư duy phá lệ thì ở Mỹ, sự va chạm của các nguồn thông tin trái ngược nhau hay sản sinh ra những cái mới, mở ra những chần trời học vấn mới.

Với lượng thông tin lớn như vậy phải nắm kịp trong một thời gian ngắn trước bài giảng, bạn sẽ cần những kỹ năng phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. Phải thú thực là ít có người, kể cả và đặc biệt là sinh viên Mỹ, có thể đọc hết tất cả những thứ thầy giao cho đọc trước. Sinh viên nước ngoài thông thường do đọc tiếng Anh như ngoại ngữ nên lại đọc càng ít hơn. Nói thế không có nghĩa là bạn cũng sẽ như vậy. Có nhiều lợi ích trong việc đọc hết được các assigned readings. Nếu bạn làm được thì bạn sẽ học được rất nhiều nhưng để làm được thế bạn cần phải làm gì.

Muốn đọc được nhiều trong thời gian ngắn, bạn cần phải đọc nhanh. Đọc nhanh tuy thế chỉ có tác dụng khi bạn nhớ được nội dung của những gì bạn đọc. Nếu không nhớ được thì đọc nhanh mấy cũng chỉ là vô ích.

Trong thời đại bùng nổ thông tin thế này, việc đọc nhanh lại càng trở nên có ích. Các chương trình dậy đọc nhanh ở Mỹ khoe là có thể huấn luyện cho ngưới ta đọc nhanh đến 10.000 từ mỗi phút (khoảng 20 trang A4) với độ ghi nhớ (retention) đến 80%. Tôi e rằng các con số này chỉ là quảng cáo. Theo tôi hiểu người thường có thể đọc bản ngữ đến khoảng 200 từ mỗi phút với độ ghi nhớ cao khoảng 60% tức là mỗi phút đọc tiếng Việt bạn sẽ may mắn nếu nhớ được thông tin chứa trong 120 từ. Cứ cho như bạn đọc tiếng Anh với tốc độ của người bản ngữ thì để đọc 100 trang (~40-50.000 từ) cho một môn học thì bạn sẽ mất khoảng 3-4 tiếng. Bạn có làm được thế không?

Nếu bạn trả lời là Không thì tôi khuyên bạn nên khởi động ngay từ bây giờ và chuyển sang đọc tiếng Anh càng nhiều càng tốt. Không phải là người bản ngữ, để đọc nhanh hơn, trước tiên bạn cần phải vượt qua những rào cản ngữ pháp và từ vựng. Ngữ pháp thì dễ dàng hơn, từ vựng thì là việc học cả đời “chỉ nói là nhiều hay ít chứ không biết thế nào cho đủ.”

Không thể nói về việc đọc mà không đề cập đến tầm quan trọng của từ vựng. Từ, đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất, là phương tiện quan trọng nhất chuyển tải ý tưởng (vehicles for ideas.) Để nắm bắt được nhiều ý tưởng hơn trong thời gian ngắn, bạn nhất thiết phải biết nhiều từ hơn mà không chỉ biết sơ qua, phải thật sự thân thiết. Từ vựng phải được coi như bạn thân để giữ cả đời (good friends to keep for life.)

Đọc câu trên tối viết, có lẽ bạn hơi nhăn mặt nghĩ rằng tôi đang hoa mỹ không cần thiết. Có thể là thế nhưng để tôi giải thích và bạn sẽ nghĩ lại là không phải thế. Do mỗi từ, ở đây tôi nói tiếng Anh, chuyển tải một ý tưởng riêng biệt-kể cả các từ đồng nghĩa cũng không hoàn toàn giống nhau-nên mỗi từ bạn biết thêm cho bạn khả năng diễn đạt một ý tưởng mới mà trước đây bạn có thế hoàn toàn không biết đến hay có biết thì để diễn đạt phải dùng cả câu dài. Nói không ngoa, mỗi từ lại thêm một chút ý nghĩa vào cuộc đời của bạn. Đây cũng đồng thời là định nghĩa cho những người bạn tốt. Như vậy, từ vựng và bạn tốt đúng thực là giống nhau.
Để đọc nhiều bạn cần đọc nhanh, để đọc nhanh bạn cần biết nhiều từ, việc bạn biết nhiều hay ít từ phụ thuộc vào việc bạn đọc cái gì.

===

2. Đọc cái gì?

Lúc khởi đầu, hãy đọc cái gì bạn thích. Đừng đọc những gì bạn bị bắt phải đọc.

Làm gì cũng vậy và đọc không phải là ngoại lệ, chúng ta làm tốt hơn nếu ham thích công việc đang làm. Đừng lo nếu ở lớp ngoại ngữ thầy cô giáo bắt bạn phải đọc một tài liệu do họ chọn, hãy cố tự chọn cho mình những tài liệu mà mình có quan tâm. Hãy đọc bầt kỳ cái gì bạn thích. Đừng ngại ngần nếu cái bạn đọc không có liên quan gì đến cái bạn học. Kiến thức có những cách kết hợp kỳ lạ ngoài tầm kiểm soát hay mong muốn của bạn.

Một quyển sách tiếng Anh hay đọc trong một tuần có giá trị hơn sáu tháng học ngoại ngữ trên lớp.

Khó tin nhưng là việc có thật. Một quyển sách hay vài trăm trang về bất kỳ vấn đề gì bạn thích là một bài học tổng hợp tốt nhất bạn có thể có. Sách sẽ dạy cho bạn cách hành văn, ngữ pháp, từ vựng, văn hóa, lịch sử, xã hội, đạo đức, triết học, tình yêu, vv. Xin thử cho tôi một ví dụ về sáu tháng học tiếng Anh trên lớp có thể mang lại cho bạn bằng đấy kiến thức.
Xin nhớ đừng quên ghi chép và đừng quên biến việc đọc thành một quá trình. Việc đọc sách nhiều trong thời gian đầu học tiếng Anh sẽ giúp bạn có thể thi TOEFL được điểm cao về ngữ pháp, từ vựng và đọc hiểu mà không cần phải học. Hãy đọc nhiều truyện hay, lãng mạn hay công an bắt gián điệp đều được cả miễn là bạn thấy thích. Ngày xưa tôi cứ đọc vài quyển sách là thấy tiếng Anh của mình đã lên cao hẳn lên một bậc.

Ở đây có hai điểm tôi muốn nói. Thứ nhất là khái niệm subliminal learning. Khái niệm này nói về việc học không có chủ ý. Đọc tiểu thuyết bằng ngoại ngữ là ví dụ như vậy, bạn học mà không biết là mình đang học. Khi tôi khuyên mọi người nên đọc bất kỳ cái gì, thông thường tôi thấy mọi người có vẻ đều nghi ngờ hoặc nếu có đồng tình thì chỉ để đó chứ không thực hiện. Về kỹ thuật mà nói, bất kỳ cái gì bạn đã nhìn thấy bạn đều nhớ. Việc bạn có biết là mình đã nhớ những gì hay có gọi lại những thứ bạn đã nhớ hay không lại là những việc khác. Học tiếng Anh bằng công thức trên lớp chỉ là một cách, thông thường hiệu quả kém nếu bạn không thích người dậy, thời tiết nóng bức, tài liệu học, người ngồi bên cạnh, vv. Đọc sách giúp bạn học thếm nhiều điều bạn cố ý học và song song là thu thập mọi thứ bạn nhìn thấy trong sách rồi lưu trữ lại trong đầu bạn khi nào ý thức yêu cầu bạn có ý kiến về một vấn đề có thể bạn hoàn toàn không biết nhưng đã trót nhìn thấy ở đâu đó trong một quyển sách bạn đã đọc, bạn sẽ thấy ngạc nhiên về hiệu quả truy cập thông tin trong tiềm thức. Bạn sẽ có ý kiến của mình mà đôi lúc không hiểu từ đâu ra.

Đây là một cách cực kỳ hiệu quả để học ngữ pháp tiếng Anh nếu ngữ pháp là thứ bạn sợ. Hãy đọc nhiều và bạn sẽ tự nhiên biết được ngữ pháp thế nào là đúng. Hãy đọc thật nhiều và bạn sẽ biết được ngữ pháp thế nào là sai. Bạn sẽ phát triển được con mắt thứ ba về các quy tắc ngữ pháp và hành văn tiếng Anh gần như chính xác tuyệt đối mà không bị mất nhiều công sức.

Điều thứ hai tôi muốn nói là về từ vựng. Ở đây tôi xin ghi lại nguyên văn 5 quy tắc học từ của tác giả Norman Lewis, một chuyên gia về huấn luyện từ vựng tiếng Anh cho người Mỹ. Xin gợi ý lại cho các bạn đang học thi GRE hay GMAT là người bản ngữ cũng thấy khó học từ hệt như bạn.

 Phải cởi mở với từ mới một cách chủ động

Từ mới sẽ không đuổi theo để bạn nhớ, hãy đi tìm chúng

 Hãy đọc thật nhiều (Hì hì, nhớ tôi nói gì ở trên không?)

Cố đọc một quyển sách và vài tạp chí mỗi tuần, không chỉ tuần này và tuần sau mà suốt cả đời.

 Hãy thêm từ mới đọc được vào vốn từ vựng của mình

Lần đầu nhìn thấy từ mới, hãy dừng một chút để suy nghĩ đến ý nghĩa của từ trong văn cảnh cũng như “chiêm ngưỡng dung nhan của nó”. Bạn chưa chắc đã nhớ ngay nhưng sẽ nhận ra nó lần sau, vài lần như thế thì bạn không chỉ nhớ mà còn biết các nghĩa khác nhau của từ nữa.

 Phải để tư tưởng cởi mở với các ý tưởng mới.

Từ là ý, nếu không muốn nhớ ý thì sẽ khó nhớ từ

 Phải đặt mục tiêu cụ thể

Nếu không có mục tiêu thì trong vòng một năm tới may lắm bạn học được thêm vài chục từ mới. Nếu có mục tiêu bạn có thể học được vài chục từ mới trong vòng một tuần hay vài ngàn từ trong cả năm. Đừng sợ học hết từ, tiếng Anh hiện đại có ít nhất 500.000 từ và mỗi ngày đều có thêm những từ mới.

12/6/09

Cách kết nối qua wifi giữa 2 laptop cài vista

Nhấn Start - Control Panel - Network - Sharing Center .
Nhấn tiếp vào phần “Set up a connection or network”.
Click this bar to view the full image.
Click the image to open in full size.


* Nhấn tiếp “Set up a wireless router or access point”, và nhấn nút Next.
Click this bar to view the full image.
Click the image to open in full size.

Click this bar to view the full image.
Click the image to open in full size.


* Nhập tên mạng bạn đang sử dụng, rồi chọn loại giao thức bảo mật (có thể chọn WEP vì bạn đã biết rõ mình đang chia sẻ mạng với những ai mà không sợ người khác sử dụng “chùa”), rồi sau đó nhập khóa bảo mật vào.

* Chọn nút kiểm “Save this network”, rồi nhấn nút Next.
* Nếu hộp thoại “Turn on Internet Connection Sharing”, bạn hãy nhấp chọn vào đó để hoàn tất quá trình.
Click this bar to view the full image.
Click the image to open in full size.


* Vậy là xong! Giờ đây bạn có thể chia sẻ kết nối Wi-Fi với bạn bè và người thân trong phạm vi 10 m.

Kết nối 2 laptop bằng wireless

Phần lớn các máy laptop đều có kết nối không dây (wireless), chính vì vậy mà hai máy laptop trong cùng một cơ quan hoàn toàn có thể nối mạng với nhau để phối hợp làm việc mà không cần phải mua sắm thêm một thiết bị nào khác.

Để giải quyết vấn đề, bạn cần tạo ra một kết nối pear to pear giữa 2 máy. Nhưng vì không có access point nên IP không tự động được cấp mà bạn phải tự gán. Vì vậy, bước đầu tiên là tự gán IP và các bước tiếp theo như sau:.

1. Tự gán IP cho 2 máy

latop1.gif latop2.gif

Ở bước này bạn cần thực hiện trên cả 2 máy để cho chúng cùng lớp IP với nhau. Thực hiện như sau:

  • Vào cửa sổ tình trạng kết nối wireless (hình 1) bằng cách bấm đôi vào biểu tượng mạng bên phải màn hình.
  • Bấm vào Properties, một cửa sổ kế tiếp sẽ xuất hiện (hình 2).
  • Bấm đôi vào dòng Internet Protocol (TCP/IP) và set IP cho cả 2 máy laptop. Bạn có thể gán tùy ý nhưng bắt buộc là cả 2 máy phải cùng lớp và cùng Subnet mask. Ví dụ cụ thể:

Máy 1:

  • IP: 10.0.0.45
  • Subnet mask: 255.255.255.0
  • Máy 2:
  • IP: 10.0.0.46
  • Subnet mask: 255.255.255.0

Các dòng khác cứ để trống.

Vậy là bạn đã thực hiện xong bước 1, bây giờ đến bước kết nối cho 2 máy.

2. Tạo kết nối wireless giữa 2 máy

Trong bước này bạn sẽ làm cho 2 máy phát và nhận sóng của nhau. Thực hiện như sau:

  • Bấm phải vào biểu tượng Wireless Network Connection dưới taskbar, chọn View Available latop3.gifWireless Network. Bấm vào dòng Change the order of preferred networks trong hộp thoại xuất hiện (hình 3).
  • Tiếp tục bấm nút Add để tạo một mạng mới (hình 4).
  • Đặt tên cho mạng của mình ở dòng Network name.
  • Đặt mật khẩu để vào mạng ở dòng Network key. Chú ý bạn phải chọn vào dòng This is a computer to computer.

Đến đây, bạn đã hoàn tất bước 2.

latop4.gif

3. Vào mạng

  • Bấm vào biểu tượng mạng Wireless bên phải màn hình. Chọn nút View wireless network.
  • Bấm vào Connect... Máy 1 bây giờ sẽ phát ra tín hiệu và chờ máy 2 kết nối. Nếu máy 2 dò mạng lúc này sẽ thấy mạng của máy 1. Máy 2 bấm Connect thì cả hai máy sẽ kết nối với nhau (hình 5).

latop5.gif

4. Ứng dụng

Bây giờ bạn có thể share file để máy kia vào nhận, hoặc bạn có thể chat trực tiếp giữa 2 máy, send file trực tiếp bằng tiện ích Net meeting của Windows (hình 6) bằng cách vào Run, nhập lệnh conf để mở được tiện ích này, hoặc bạn có thể chơi game như trong mạng LAN.

10/24/09

Cách làm bài thi READING của IELTS

Hôm nay, Bear xin nói về cách làm bài thi READING của IELTS.
1. Thời gian thi kỹ năng đọc hiểu trong kỳ thi IELTS là 60 phút.
2. Phải đọc tổng cộng là 3 PASSAGES .
3. Tổng cộng số câu hỏi phải trả lời là 40 câu.
4. Khi làm phải chia thời gian:
19 phút để trả lời các câu hỏi của 1 PASSAGE + 1 phút để chuyển đáp án từ trong đề sang tờ ANSWER SHEET
=> 1 PASSAGE = 20 phút
5. Cách tính điểm: 3 – 2 – 2:

38, 39, 40 câu
9.0
36, 37 câu
8.5
34, 35 câu
8.0
31, 32, 33 câu
7.5
29, 30 câu
7.0
27, 28 câu
6.5
24, 25, 26 câu
6.0
22, 23 câu
5.5
20, 21 câu
5.0
17, 18, 19 câu
4.5
15, 16 câu
4.0
12, 13, 14 câu
3.5
10, 11 câu
3.0
8 , 9 câu
2.5
5, 6 , 7 câu
2.0
3, 4 câu
1.5
1, 2 câu
1.0

6. Cách làm là:
- Đọc hết tất cả các câu hỏi liên quan đến PASSAGE đó trước rồi mới đọc PASSAGE + hiểu khoảng 50% y’ của câu hỏi + trí nhớ tốt.
- Gạch dưới từ khóa của câu hỏi => nhớ từ khóa => đọc đọan văn => quay lại đọan văn tìm và gạch dưới từ khóa, từ đồng nghĩa, trái nghĩa [ Hiểu trên 50% nội dung của đoạn văn]

Ví dụ:
Bước 1: đọc câu hỏi:
According to the writer, creative people
A. are usually born with their talents
B. are born with their talents.
C. are not born with their talents.
D. a well-trodden path.

Bước 2: gạch dưới key words
According to the writer, creative people
A. are usually born with their talents
B. are born with their talents.
C. are not born with their talents.
D. a well-trodden path

Bước 3: Đọc đoạn văn + gạch dưới từ khóa để xác định có thể đáp án nằm trong phần nào của đoạn văn:
It is a myth that creative people are born with their talents: gifts from God or nature. Creative genius is, in fact, latent within many of us, without our realising. But how far do we need to travel to find the path to creativity? For many people, long way…
Ví dụ: phần tô màu xanh ở trên là phần mình có thể đoán được đáp án chính là nằm ở đó, nhờ vào key words ở câu hỏi: creative people, born with talents..
Khi đã xác định phạm vi đáp án nằm ở đâu trong đoạn văn, tiếp tục đến bước 4.

Bước 4: đọc kỹ nguyên câu đó.
Trong ví dụ trên, nếu không đọc kỹ, mình sẽ chọn đáp án là B. Nhưng nếu đọc hết câu, sẽ thấy có chữ ‘myth’.
ð It is a myth that creative people are born with their talents: Thật là sai lầm khi nghĩ rằng những con người sáng tạo có tài năng bẩm sinh.
Note: myth = a commonly believed but false idea


Bước 5: chọn đáp án là câu C
According to the writer, creative people
A. are usually born with their talents
B. are born with their talents.
C. are not born with their talents.
D. a well-trodden path

Lời khuyên:
1. ‘Practice makes perfect’ => Hãy luyện tập giải đề thật nhiều thì mới nhanh nhạy đối phó với vấn đề về thời gian. Nhất định phải luyện tập cho mình thói quen: 19 phút là phải xong 1 PASSAGE. Không nên vì 1 câu tìm không ra đáp án, mà suy nghĩ hoài, mất thời gian. Thay vào đó, hãy làm những câu khác. Nếu tập trung vào 1 câu khó mà bỏ lỡ cơ hội trả lời đúng những câu dễ thì uổng lắm.
2. Học 3 từ vựng IELTS đều đặn mỗi ngày vì trong bài reading, những từ này xuất hiện như.. ‘cát trên sa mạc’ vậy. Ví von vậy để thấy sự lợi hại của quyển sách 22.000 từ này nhé.
3. Nếu không có thời gian, mọi ngừơi chỉ việc luyện quyển:
IELTS Reading Tests : nhà xuất bản trẻ - 15.000VND. Hoặc cũng là 10 reading tests này, nhưng khổ to hơn + phía sau mỗi bài, có phần từ vựng cho riêng bài đó (nhà xuất bản tổng hợp TPHCM) : 44.000VND
Phía sau quyển sách, có đáp án rất rõ ràng, giải thích vì sao nên chọn A, mà không phải là B..
[Mà Bear khuyến khích nên sử dụng cuốn khổ to, vì lúc Bear luyện cuốn sách khổ nhỏ, chữ nhỏ, Bear thấy đọc 1 chút là hết ngay cái passage. Đến lúc đi thi, Bear hơi choáng, vì tờ giấy to, chữ to.. cảm giác đọc hoài không hết! ]
4. Giai đoạn đầu, chỉ nên làm 1 PASSAGE (20 phút) rồi nghỉ ngơi. Khi nào thoải mái rồi làm tiếp. Không nên làm 1 lèo 60 phút (3 passages). Giải khoảng 5 đề như thế , thì bắt đầu tập làm quen với áp lực thời gian trong phòng thi, tức là giải luôn 3 passages trong vòng 60 phút.
Mỗi lần làm xong, phải tổng kết xem mình đúng bao nhiêu trên 40 câu. Tính điểm và ghi chú lại. Để mỗi đề, xem mình tiến bộ thế nào.
5. Làm thế nào mà 1 đề, khi giải xong, check đáp án xong, mình phải hiểu rõ tại sao chọn câu đó. Để khi giải lại, phải được từ 8.0 trở lên mới được.
Có nhiều bạn hỏi: Như vậy là học thuộc đáp án à?
Câu trả lời là không phải! Mà là: phải ly’ giải được tại sao mình lại chọn đáp án đó (do trong bài, đoạn mấy, dòng mấy..).
Cách luyện tập như vậy là để pratice cái mind của mình nhanh nhẹn trong việc xử ly’ dữ liệu thôi.

6. Có nhiều dạng câu hỏi lắm:
+ Matching the two parts of split sentences
+ Short answer to open questions
+ Multiple choice questions
+ Yes/ No/ Not Given Statements
+ Gap filling exercises
+ Matching paragraph headings
Mai, Bear sẽ post 1 PASSAGE và nói cách làm của từng dạng trong mỗi lần post nhé.

TEST 1 – READING PASSAGE 1:

Questions 1 - 5

Reading Passage 1 below has 5 paragraphs (A-E). Which paragraph focuses on the information below? Write the appropriate letters (A-E) in Boxes 1-5 on your answer sheet.

1. The way parameters in the mind help people to be creative.

2. The need to learn rules in order to break them.

3. How habits restrict us and limit creativity.

4. How to train the mind to be creative.

5. How the mind is trapped by the desire for order.

THE CREATION MYTH

A. It is a myth that creative people are born with their talents: gifts from God or nature. Creative genius is, in fact, latent within many of us, without our realising. But how far do we need to travel to find the path to creativity? For many people, long way. In our everyday lives, we have to perform many acts out of habit to survive, like opening the door, shaving, getting dressed, walking to work, and so on. If this were not the case, we would, in all probability, become mentally unhinged. So strongly ingrained are our habits, though this varies from person to person, that, sometimes, when a conscious effort is made to be creative, automatic response takes over. We may try, for example, to walk to work following a different route, but end up on our usual path. By then it is too late to go back and change our minds. Another day, perhaps. The same applies to all other areas of our lives. When we are solving problems, for example, we may seek different answers, but, often as not, find ourselves walking along the same well-trodden paths.

B. So, for many people, their actions and behaviours are set in immovable blocks, their minds clogged with the cholesterol of habitual actions, preventing them from operating freely, and thereby stifling creation. Unfortunately, mankind’s very struggle for survival has become a tyranny – the obsessive desire to give order to the world is a case in point. Witness people’s attitude to time, social customs and the panoply of rules and regulations by which the human mind is now circumscribed.

C. The groundwork for keeping creative ability in check begins at school. School, later university and then work teach us to regulate our lives, imposing a continuous process of restriction, which is increasing exponentially with the advancement of technology. Is it surprising then that creative ability appears to be so rare? It is trapped in the prison that we have erected. Yet, even here in this hostile environment, the foundations for creativity are being laid; because setting off on the creative path is also partly about using rules and regulations. Such limitations are needed so that once they are learnt, they can be broken.

D. The truly creative mind is often seen as totally free and unfettered. But a better image is of a mind, which can be free when it wants, and one that recognises that rules and regulations are parameters, or barriers, to be raised and dropped again at will. An example of how the human kind can be trained to be creative might help here. People’s mind are just like tense muscles, that need to be freed up and the potential unlocked. One strategy is to erect artifitial barriers or hurdles in solving a problem. In this way, they are obliged to explore unfamiliar territory, which may led to some startling discoveries. Unfortunately, the difficulty in this exercise, and with creation itself, is convincing people that creation is possible, shrouded as it is so much myth and legend. There is also an element of fear involved, however subliminal, as deviating from the safety of one’s own thought patterns is very much akin to madness. But, open Pandora’s box, and a whole new world unfolds before your eyes.

E. Lifting barriers into place also plays a major part in helping the mind to control ideas rather than letting them collide at random. Parameterrs act as containers for ideas, and thus help the mind to fix on them. When the mind is thinking laterally, and two ideas from different areas of the brain come or are brought together, they form a new idea, just like atoms floating around and then forming a molecule. Once the idea has been formed, it needs to be contained or it will fly away, so fleeting is its passage. The mind needs to hold it in place for a time so that it can recognise it or call on it again. And then the parameters can act as channels along which the ideas can flow, developing and expanding. When the mind has brought the idea to fruition by thinking it through to its final conclusion, the parameters can be brought down and the idea allowed to float off and come in contact with other ideas.

Questions 6 – 10


6. According to the writer, creative people
A. are usually born with their talents
B. are born with their talents
C. are not born with their talents
D. are geniuses

7. According to the writer, creativity is
A. a gift from God or nature
B. an automatic response
C. difficult for many people to achieve
D. a well-trodden path

8. According to the writer :
A. the human race’s fight to live is becoming a tyranny
B. the human brain is blocked with cholesterol
C. the human race is now cicumbribed by talents
D. the human race’s fight to survive stifles creative ability

9. Advancing technology
A. holds creativity in check
B. improves creativity
C. enhances creativity
D. is a TYRANNY

10.According to the author, creativity…
A. is common
B. is increasingly common
C. is becoming rarer and rarer
D. is a rare commodity

Questions 11 – 15

Do the statements below agree with the information in Reading Passage 1? In boxes 11 – 15, write:

Yes If the statement agrees with the information in the passage

No If the statement contradicts the information in the passage

Not given If there is no information about the statement in the passage

11.Rules and regulations are examples of parameters.

12.The truly creative mind is associated with the need for free speech and a totally free society.

13.One problem with creativity is that people think it is impossible.

14.The act of creation is linked to madness.

15.Parameters help the mind by holding the ideas and helping them to develop.

Mọi người thử làm, lần tới Bear post đáp án J Enjoy..


Hôm nay Bear post: answers + phần giải thích:
KEY TO TEST 1 – READING PASSAGE 1:
Questions 1 – 5:
This type of question is a variation of paragraph headings. There are no distracters in this section, which makes it much easier.
1. Answer: E. The paragraph is about the fact that parameters help our minds to be creative.
2. Answer: C. The answer lies in the key phrases: .. keeping creative ability in check (in the first sentence) and These limitations are needed so that once they are learnt, they can be broken (the last sentence of the paragraph). The focus sentence is a combination of these two ideas. Note how the word yet devides the paragraph. It indicates the focus of the paragraph against the background in the first part. It also marks the division of information in the whole passage.
3. Answer: A. The writer wrote the paragraph to show that habits limit our creativity and the habits we need to survive play a role in this limitation.
4. Answer: D. The theme of the paragraph is how creativity works.
5. Answer: B. The paragraph deals with how parameters help the mind to be creative.

Questions 6 - 10
6. Answer: C. The answer is in the first line of the passage: It is a myth that creative people are born with their talents. Here, it is a myth = are not.
7. Answer: C. The answer is in paragraph A. The actual words are not in the paragraph, but the meaning is clear. A is not correct, because this is a myth. B is not correct, because the passage states that when we try to be creative, our automatic response takes over. D is not correct, because the well-trodden paths prevent creativity. Compare number 13 below.
8. Answer: D. The answer is in paragraph B: Unfortunately, mankind’s very struggle for survival has become a tyranny. The answer paraphrases this statement. A is not correct, because the passage says the struggle has become i.e. is a tyranny, not that it is becoming so. B is not correct, because cholesterol is not mentioned in relationship to the brain, but the mind. C is incorrect, because it is the mind which is circumscribed.
9. Answer: A. The answer is in paragraph C: a continuous process of restriction, which is increasing exponentially with the advancement of techonology. The statement is a paraphrase of this section. Note B and C are basically the same; it is, therefore, not possible to have either of these two alternatives as your answer. Watch out for this feature in multiple choice questions.
10. Answer: D. The answer is in paragraph C: Is it surprising then that creative ability appears to be so rare? This is question and has the same meaning as the statement given, i.e. it is not surprising. Note C is not possible, because the passage doesn’t indicate whether the rarity is increasing or decreasing.
Questions 11 - 15
11. Answer: Yes. The answer is at the beginning of paragraph D: .. and one that recognises that rules and regulations are parameters..
12. Answer: Not Given. There is no reference to this statement in the passage.
13. Answer: Yes. The answer is in paragraph D: The difficulty in this exercise and with creation itself is convincing people that creation is possible. The answer is a paraphrase of this part of the text. Compare number 7 above.
14. Answer: Yes. The answer is at the end of paragraph D: leaving the safety of one’s own thought patterns is very much akin to madness; akin to = like.
15. Answer: Yes. The answer is in the latter half of paragraph E.

READING PASSAGE 2:
Nhớ: Khi làm phải chia thời gian:
19 phút để trả lời các câu hỏi của 1 PASSAGE + 1 phút để chuyển đáp án từ trong đề sang tờ ANSWER SHEET
=> 1 PASSAGE = 20 phút
Now.. enjoy.. Wink
You should spend about 20 minutes on Questions 16 – 30, which are based on Reading Passage 2 below.
LOCKED DOORS, OPEN ACCESS.
1. The word, ‘security’, has both positive and negative connotations. Most of us would say that we crave security for all its positve virtues, both physical and psychological – its evocation of the safefy of home, of undying love, or of freedom from need. More negatively, the word nowadays conjures up images of that huge industry which has developed to protect individuals and property from invasion by ‘outsider’, ostensibly malicious and intent on theft or wilful damage.
2. Increasingly, because they are situated in urban areas of escalating crime, those buildings which used to allow free-access to employees and other users (buildings such as offices, schools, colleges or hospitals) now do not. Entry areas which in another age were called ‘Reception’ are now manned by security staff. Receptionists, whose task it was to receive visitors and to make them welcome before passing them on to the person they had come to see, have been replaced by those who task it is to bar entry to the unauthorized, the unwanted or the plain unappealing.
3. Inside, these buildings are divided into ‘secure zones’ which often have all the trappings of combination locks and burglar alarms. These devices bar entry to the uninitiated, hinder circulation, and create parameters of time and space for user access. Within the spaces created by these zones, individual rooms are themselves under lock and key, which is a particular problem when it means that working space becomes compartmentalized.
4. To combat the consequent difficulty of access to people at a physical level, we have now developed technological access. Computers sit on every desk and are linked to one another, and in many cases to an external universe of other computers, so that messages can be passed to and fro. Here too security plays a part, since we must not be allowed access to messages destined for others. And so the password was invented. Now correspondence between individuals goes from desk to desk and can not be accessed by collegues. Library catalogues can be searched from one’s desk. Papers can be delivered to, and received from, other people at the press of a button.
5. And yet it seems that, just as work is isolating individuals more and more, organizations are recognizing the advantages of ‘team-work’; perhaps in order to encourage employees to talk to one another again. Yet, how can groups work in teams if the possibilities for communication are reduced? How can they work together if e-mail provides a convenient electronic shield behind which the blurring of public and private can be exploited by the less scrupulous? If voice-mail walls up messages behind a password? If I can’t leave a message on my colleagues’ desk because his office is locked?
6. Team-work conceals the fact that another kind of security, ‘job security’, is almost always not on offer. Just as organizations now recognize three kinds of physical resources: those they buy, those they lease long-term and those they rent short-term – so it is with their human resources. Some employees have permanent contracts, some have short-term contracts, and some are regarded simply as casual labour.
7. Telecomunication systems offer us the direct line, which means that individuals can be contacted without the caller having to talk to anyone else. Voice-mail and the anser-phone mean that individuals can communicate without ever actually talking to one another. If we are unfortunate enough to contact an organization with a sophisticated touch-tone dialling system, we can buy things and pay for them without ever speaking to a human being.
8. To combat this closing in on ourselves we have the Internet, which opens out communication channels more widely than anyone could possibly want or need. An individual’s electronic presence on the internet is known as the ‘Home Page’ – suggesting the safety and security of an electronic hearth. An elaborate system of 3-dimensional medium of ‘web sites’. The nomenclature itself creates the illusion of a geographical entity, that the person sitting before the computer is travelling, when it fact the ‘site’ is coming to him. ‘Addresses’ of one kind or another move to the individual, rather than the individual moving between them, now that location is no longer geographical.
9. An example of this is the mobile phone. I am now not available either at home or at work, but wherever I take my mobile phone. Yet, even now, we cannot escape the security of wanting to ‘locate’ the person at the other end. It is no coincidence that almost everyone we see answering or initiating a mobile phone-call in public begins by saying where he or she is.
Questions 16 – 19
Choose the appropriate letters A – D and write them in Boxes 16 – 19 on your answer sheet.
16. According to the author, one thing we long for is..
A. the saftey of the home
B. security
C. open access
D. positive virutes.
17. Access to many buildings..
A. is unauthorised
B. is becoming more difficult
C. is a cause of crime in many urban areas.
D. used to be called ‘Reception’.
18. Buildings used to permit access to any users,…
A. but now they do not
B. and still do now
C. especially offices and schols
D. especially in urban areas.
19. Secure zones…
A. don’t allow access to the user
B. compartmentalise the user
C. are often like traps
D. are not accessible to everybody.
Questions 20 – 27
Complete the text below, which is a summary of paragraphs 4 – 6. Choose your answers from the Word List below and write them in Boxes 20 – 27 on your answer sheet.
There are more words and phrases than spaces, so you will not be able to use them all. You may used any word or phrase more than once.
Example:
The problem of ___________ access to buildings..
Answer: physical
The problem of physical access to buildings has now been (20)________ by technology. Messages are sent between (21)___________, with passwords not allowing (22)_________ to read someone else’s messages. But, while individuals are becoming increasingly (23)_______ socially by the way they do their job, at the same time more value is being put on (24)_________. However, e-mail and voice-mail have led to a (25)___________ opportunities for person – to – person communication. And the fact that job-security is generally not available nowadays is hidden by the very concept of (26)__________. Human resources are now regarded in (27)__________ physical ones.
Word list
Just the same way as computer cut-off
Reducing of computers overcame
Decrease in combat isolating
Team-work developed physical
Similar other people
No different from solved
Questions 28 – 30
Complete the sentences below. Use NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.
Write your answers in Boxes 28 – 30 on your answer sheet.
28. The writer does not like_______________
29. An individual’s Home Page indicates their ___________ on the Internet.
30. Devices like mobile phones mean that location is ______________

KEY TO TEST 1 – READING PASSAGE 2
Questions 16 - 19
16. Answer: B. The answer is in the econd sentence of paragraph 1: we crave security.
17. Answer: B. The answer is in paragraph 2. The key word increasingly = becoming. A, C and D are all mentioned in the paragraph, but not in the correct context.
18. Answer: A. The answer is in the first sentence of paragraph 2: now do not. B is the opposite and C and D are just phrases lifted from the text.
19. Answer: D. the answer is in paragraph 3, the key phrase is bar entry to the uninitiated, which the answer parapharses. A is incorrect, because only some access is not allowed. B is not true, because it is the working space that is compartmentalised, not the user, and C is not correct, because ‘traps’ are not the same as ‘trappings’.
Questions 20 – 27
Before you start looking in the text for the words to complete the blank spaces, you should read the summary through quickly to get an idea of the overall meaning. As you read, you should work out what kind of word you need to find in each case. For example, doe the blank require a verb in the imperative form, a noun, an adjective or an adverb? You should also think of words that could fill the blanks so that when you look at the original passage the answers will come to you more easily.
20. Answer: solved. Although the word combat appears in the original, it does not fit here grammatically. The past participle is needed. Note overcame is the Simple Past, not Past participle.
21. Answer: computer. The plural is needed here.
22. Answer: other people.
23. Answer: cut-off. The word isolating does not fit grammatically. You need an adjective made from the past participle of the verb. Compare 20 above.
24. Answer: team-work
25. Answer: decrease in
26. Answer: team-work. As it says in the instructions, you may use a word or phrase more than once.
27. Answer: just the same way as. The answer is obviously not similar or no different from.
Questions 28 – 30.
28. Answer: touch-tone dialling systems. The answer is in paragraph 7: if we are unfortunate enough to contact an organization with a sophisticated touch-tone dialling system. The key word here is unfortunate, which shows that the writer is negative about the topic. The writer does not comment on the other means of communication in the same way.
29. Answer: electronic presence. The answer is in paragraph 8.
30. Answer: no longer geographical. The answer is in paragraphs 8 and 9:.. now that location is no longer geographical.. An example of this is the mobile phone. The important thing here is to recognise the link between the paragraphs.

READING PASSAGE 3:
You should spend about 20 minutes on Questions 31 – 40, which are based on Reading Passage 3 below.
NATIONAL CUISINE AND TOURISM.
1. To an extent, agriculture dictates that every country should have a set of specific foods which are native to that country. They may even be unique. However, even allowing for the power of agriculture science, advances in food distribution and changes in food economics to alter the ethnocentric properties of food, it is still possible for a country ‘to be famous for’ a particular food even if it is widely available elsewhere.
The degree to which cuisine is embedded in national culture
2. Within the sociology of food literature two themes suggest that food is linked to social culture. The first relates food and eating to social relationships, (Finkelstein, Vissor, Wood), and the second establishes food as a reflection of the distribution of power within social structures, (Mennell). However, establishing a role for food in personal relationships and social structures is not a sufficient argument to place food at the centre of national culture. To do that it is necessary to prove a degree of embeddedness. It would be appropriate at this point to consider the nature of culture.
3. The distinction made by Pierce between a behavioural contingency and a cultural contingency is crucial to our understanding of culture. Whilst a piece of behaviour may take place very often, involve a network of people and be reproducible by other networks who do not know each other, the meaning of the behaviour does not go beyond the activity itself. A cultural practice, however, contains and represents ‘meta-contingencies’ that is, behavioural practices that have a social meaning greater than the activity itself and which, by their nature reinforce the culture which houses them. Celebrating birthdays is a cultural practice not because everybody does it but because it has a religious meaning. Contrast this with the practice in Britain of celebrating ‘Guy Fawkes Night’. It is essentially an excuse for a good time but if fireworks were banned, the occasion would gradually die away altogether or end up as cult to California. A smaller scale example might be more useful. In the British context, compare drinking in pubs with eating ‘fish and chips’. Both are common practices, yet the former reflects something of the social fabric of the country, particularly family, gender, class and age relationships whilst the latter is just a national habit. In other words, a constant, well populated pattern of behaviour is not necessarily cultural. However, it is also clear that a cultural practice needs behavioural reinforcement. Social culture is not immortal.
4. Finkelstein argues that ‘dining out’ is simply ‘action which supports a surface life’. For him it is the word ‘out’ that disconnects food from culture. This view of culture and food places the ‘home’ as the cultural centre. Continental European eating habits may contradict this notion by their general acceptance of eating out as part of family life. Following the principle that culture needs behavioural reinforcement, if everyone ‘eats’ out’ on a regular basis, irrespective of social and economic differentiation, then this might constitue behavioural support for cuisine being part of social culture. That aside, the significance of a behavioural practice being embedded in culture is that it naturally maintains an approved and accepted way of life and therefore has a tendency to resist change.
5. The thrust of the argument is that countries differ in the degree to which their food and eating habits have a social and cultural meaning beyond the behaviour itself. This argument, however, could be interpreted to imply that the country with the greatest proportion of meals taken outside the home would be the one in which the national cuisine is more embedded in social culture. This is a difficult position to maintain because it would bring America, with its fast-food culture to the fore. The fast-food culture of America raises the issue of whether there are qualitative criteria for the concept of cuisine. The key issue is not the extent of the common behaviour but whether or not it has a function in maintaining social cohesion and is appreciated and valued through social norms. French cuisine and ‘going down the pub’ are strange bedfellows but bedfellows nevertheless.
How homogenous is national cuisine?
6. Like languages, cuisine is not a static entity and whilst its fundamental character is unlikely to change in the short run it may evolve in different directions. Just as in a language there are dialects so in a cuisine there are variations. The two principal sources of diversity are the physical geography of the country and its social diversity.
7. The geographical dimensions work through agriculture to particularise and to limit locally produced ingredients. Ethnic diversity in the population works through the role of cuisine in social identity to create ethnically distinct cuisines which may not converge into a national cuisine. This raises the question of how far a national cuisine is related to national borders. To an ethnic group their cuisine is national. The greater the division of a society into classes, castes and status groups with their attendant ethnocentric properties, of which cuisine is a part, then the greater will be the diversity of the cuisines.
8. However, there is a case for convergence. Both these principal sources of diversity are, to an extent, influenced by the strength of their boundaries and the willingness of society to erode them. It is a question of isolation and intergration. Efficient transport and the application of chemistry can alter agricultural boundaries to make a wider range of foods available to a cuisine. Similarly, political and social intergration can erode ethnic boundaries. However, all these arguments mean nothing if the cuisine is not embedded in social culture. Riley argues that when a cuisine is not embedded in social culture it is suceptible to novelty and invasion by other cuisines.
Questions 31 – 36
Choose one phrase (A-K) from the List of phrases to complete each Key point below. Write the appropriate letters (A-K) in Boxes 31 – 36 on your answer sheet.
The information in the completed sentences should be an accurate summary of the points made by the writer.
There are more phrases (A-K) than sentences, so you will not need to use them all. You may use each phrase once only.
Key points
31. The native foods of a country,…
32. The ethnocentric properties of food…
33. Celebrating birthdays…
34. Cultural practice…
35. Drinking in pubs in Britain…
36. The link between language and cuisine…
List of phrases:
A. is a behavioural practice, not a cultural practice
B. are unique
C. varies
D. is that both are diverse
E. is a reflection of the social fabric
F. is a cultural practice
G. can be changed by economic and distribution factors
H. is fundamental
I. are not as common as behaviour
J. needs to be reinforced by behaviour
K. are, to a certain extent, dictated by agriculture
Question 37 – 40
Use the information in the text to match the Authors (A-D) with the Findings (37-40) below. Write the appropriate letters (A-D) in Boxes 37 – 40 on your answer sheet.
Authors
A. Finkelstein
B. Pierce
C. Mennell
D. Riley
Findings
37. There is a difference between behaviour and cultural practice.
38. The connection between social culture and food must be strong if national cuisine is to survive intact.
39. Distribution of power in society is reflected in food.
40. The link between culture and eating outside the home is not strong..